Connect with us

Bảo vệ Động vật hoang dã - Bm36A2

Hành trình trở thành thú nuôi thuần chủng của động vật hoang dã

Published

on

Cà cổ xưa, nguồn gốc của vật nuôi

Bất cứ con vật nào trước khi được con người thuần hoá và nuôi trong gia đình đều có xuất thân từ động vật hoang dã. Trải qua hàng ngàn năm, chúng trở thành thú nuôi, thậm chí thú cưng của con người.

1. Mèo

Những bằng chứng di truyền cho thấy, mèo được nông dân vùng Cận Đông và Ai Cập cổ đại thuần hoá từ 10.000 năm trước. Các nghiên cứu đã kết luận rằng, mèo có nguồn gốc từ mèo rừng châu Phi. Nông dân các vùng ở đây chấp nhận sự tồn tại của mèo rừng vì chúng giúp bảo vệ hạt giống của họ bởi các loài gặm nhấm phá hoại.

Khi các nhà khảo cổ nhìn vào đồng vị trong xương của mèo, họ có thể nhìn thấy dấu vết thức ăn mà loài mèo đã ăn. Những con mèo đã ăn những con vật mà chúng đã ăn không ít thóc lúa của con người. Người nông dân đã nhận ra được các lợi ích của mèo và nhân giống chúng. Dần dần, mối quan hệ của con người và loài
mèo trở nên gần gũi hơn, bộ gen và hành vi của mèo cũng thay đổi.

Mèo được bắt nuôi và đưa được đưa đến các vùng đất mới. Đối với người Ai Cập, địa vị của mèo rất cao quý. Ra ngoài gặp mèo phải tìm mọi cách mang về nước. Ai làm chết mèo sẽ bị tội xử tử. Từ đó, mèo được thuần hoá và sống cùng con người như bây giờ.

Mèo Ai cập cổ đại, động vật hoang dã, Hành trình trở thành thú nuôi thuần chủng,

Mèo trong tranh Ai Cập cổ đại

2. Chó

Tổ tiên của loài chó là chó sói

Tổ tiên của loài chó là chó sói. Ảnh: Shutterstock

Loài chó đã tồn tại song song với con người từ thuở sơ khai, nhưng nguồn gốc chính xác lại vẫn còn đang có nhiều tranh cãi. Loài chó xuất hiện cách đây khoảng 15.000 năm, trước khi nền nông nghiệp ra đời. Chó là một trong những loài được thuần hoá thành vật nuôi sớm nhất.

Những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng chó có xuất thân từ hai giống sói cổ, xảy ra song song tại hai đầu lục địa Á Âu. Hoặc chính xác hơn loài sói cổ đã tuyệt chủng là tổ tiên chung của loài sói hiện đại và loài chó. Khoảng 8000 năm trước, chó đồng hành cùng con người trong những chuyến đi săn. Sau đó, khoảng 6000 năm, con người bắt đầu thuần hoá và nuôi chó trong nhà. Từ đó, có những sự thay đổi trong bộ gen và bản tính của loài thú bốn chân này: bộ lông trở nên loang lổ thay vì thuần màu, cặp tai rủ và chiếc đuôi biết vẫy vui mừng.

Thái độ cũng gần gũi với con người, khác với loài sói luôn e dè và hằn thù với các thực thể khác bầy. Sự trung thành của loài chó được di truyền từ tập tính sống theo bầy của sói, và tuyệt đối trung thành với con đầu đàn. Ngày nay, đa số loài chó được lai giữa phương Đông và phương Tây. Chó là loài thông minh được huấn luyện để giúp con người trong nhiều việc, xứng đáng được yêu thương và bảo vệ.

3. Lợn

Lợn rừng – nguồn gốc của lợn thuần ngày nay

Lợn rừng – nguồn gốc của lợn thuần ngày nay

Lợn nhà được cho là có nguồn gốc từ lợn rừng châu Âu và lợn rừng châu Á. Chúng được thuần hoá ở nhiều địa điểm khác nhau như Ấn Độ, vùng Ban Tích, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam,… Lợn được thuần hoá khoảng 9000 năm trước công nguyên.

Lợn rừng thường có da dày, lông cứng, màu xám đen hoặc nâu sẫm, chân khoẻ, chạy nhanh, mõm dài, con đực có răng nanh dài. Xưa lợn hoang dã được con người săn bắt để dùng làm thực phẩm. Sau đó được nuôi để cung cấp thức ăn cho con người một cách thuận lợi và dễ dàng hơn. Từ lợn hoang dã, con người đã chọn lọc và lai tạo để tạo nên những giống lợn khác nhau. Hiện có khoảng 498 giống lợn khác nhau trên toàn thế giới trong đó châu Á có khoảng 184 giống lợn, châu Âu có khoảng 228 giống.

4. Gà

Gà nhà có nguồn gốc từ gà rừng mà cụ thể là các loài gà rừng lông đỏ và gà rừng lông xám, gà rừng thường bé nhỏ, đẻ theo mùa vụ, trứng nhỏ, gà rừng có thể bay cao và bay khá xa. Gà nhà được thuần hóa đầu tiên ở Ấn Độ và sau này là ở vùng Đông Nam Á. Những cây tre ở khu vực này sinh ra một loại quả khổng lồ cứ vài thập kỉ một lần. Khả năng đẻ trứng hàng ngày của gà rừng có thể là cách tiến hóa để tận dụng nguồn thức ăn hiếm có này để tăng số lượng.

Đây là điều con người có thể lợi dụng một cách lâu dài. Khả năng bay kém nhu cầu có hạn về chỗ ở khiến chúng dễ dàng bị bắt và nuôi nhốt. Những con gà nhà sớm nhất có niên đại khoảng 7000 năm. Chúng không được nuôi làm thức ăn mà để phục vụ cho trờ tiêu khiển là chọi gà. Vào thiên niên kỷ thứ 2 TCN, gà dã lan ra từ khu vực sông Ấn tới Trung Quốc và Trung Đông, được nuôi trong vườn ngự uyển và dùng trong nghi thức tôn giáo.

Gà đã được thuần hóa. Ảnh: FieldImage

Ai Cập là nơi mở ra chương mới trong lịch sử loài gà. Khi gà mái ấp trứng tự nhiên nó sẽ ngừng đẻ và ngồi ấp trên chiếc ổ có ít nhất 6 quả trứng trong 21 ngày. Vào giữa thiên niên kỉ thứ nhất TCN người Ai Cập học được cách ấp trứng gà nhân tạo, khiến cho gà mái tiếp tục đẻ trứng hàng ngày.Trứng gà trở thành thức ăn. Cùng thời gian đó, gà được đưa đến châu Âu và trở thành vật nuôi.

Tuy nhiên, trong thời gian dài, địa vị tôn kính của loài gà tồn tại song song với địa vị ẩm thực. Trong vài thế kỷ sau, chúng theo chân con người đến bất cứ nơi nào. Sau chiến tranh nha phiến, gà Trung Quốc được đưa tới Anh và phối giống, tạo nên “cơn sốt gà” với nông dân châu Âu. Họ thi nhau lai ra các giống gà mới với đặc điểm di truyền đặc biệt. Thậm chí các nhà khoa học đã vào cuộc, cho ra đời nhiều giống gà lai to hơn, và có thể đẻ nhiều trứng hơn. Dần dần, gà trở thành động vật quen thuộc được nuôi theo hình thức công nghiệp và nông nghiệp như ngày nay để cung cấp thực phẩm.

Thu Hương (Tổng hợp)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bảo vệ Động vật hoang dã - Bm36A2

Kỳ 6: Đời sống loài ong: Khi trật tự xã hội là chất kết dính

Published

on

Ong là một trong những loài có tổ chức xã hội cao. Ở đó, dù sống theo đàn khoảng từ 25.000 đến 50.000 thành viên song chúng luôn có sự phân công công việc rõ ràng. Vậy cấu tạo của chúng và làm thế nào để chúng giữ được trật tự xã hội một cách hoàn hảo đến như thế?

Trong một tổ chức xã hội của bất kỳ một tổ ong nào, “quyền lực” của ong chúa luôn là tối thượng và không thể đụng tới. Về đặc điểm nhận biết, có thân dài và to hơn những con ong khác trong đàn và đôi cánh của nó cũng ngắn hơn rất nhiều. Thân của nó có màu đen đặc trưng rất dễ nhận ra. Mỗi khi ong chúa di chuyển, tất cả các con ong khác trong đàn đều phải tránh đường cho nó.

Trong một tổ chức xã hội của bất kỳ một tổ ong nào, “quyền lực” của ong chúa luôn là tối thượng và không thể đụng tới. Về đặc điểm nhận biết, có thân dài và to hơn những con ong khác trong đàn và đôi cánh của nó cũng ngắn hơn rất nhiều. Thân của nó có màu đen đặc trưng rất dễ nhận ra. Mỗi khi ong chúa di chuyển, tất cả các con ong khác trong đàn đều phải tránh đường cho nó.

Ong chúa sống từ 3 – 5 năm. Mỗi tổ ong chỉ có duy nhất một con ong chúa. Nhiệm vụ của nó là đẻ trứng trong suốt đời. Một con ong chúa có thể đẻ từ 1000 đến 2000 trứng mỗi ngày. Do đó, chúng có buồng trứng lớn và đặc biệt phát triển.

Ong chúa sống từ 3 – 5 năm. Mỗi tổ ong chỉ có duy nhất một con ong chúa. Nhiệm vụ của nó là đẻ trứng trong suốt đời. Một con ong chúa có thể đẻ từ 1000 đến 2000 trứng mỗi ngày. Do đó, chúng có buồng trứng lớn và đặc biệt phát triển.

Phần đầu của loài ong có hình dạng gần tam giác với các bộ phận gồm: mắt kép, mắt đơn, miệng, lưỡi, bộ não, các tuyến và râu. Đặc biệt, tuyến hàm trên của ong khi 3 – 10 tháng tuổi tiết ra một chất dinh dưỡng như sữa để nuôi ong chúa. Đó cũng chính là sữa ong chúa như nhiều người vẫn thường gọi. Trong ba đôi chân của ong, đặc biệt đôi chân thứ 3 của ong thợ có cấu tạo giống như chiếc giỏ đểdựng hạt phấn từ nguồn hoa mang về tổ.

Phần đầu của loài ong có hình dạng gần tam giác với các bộ phận gồm: mắt kép, mắt đơn, miệng, lưỡi, bộ não, các tuyến và râu. Đặc biệt, tuyến hàm trên của ong khi 3 – 10 tháng tuổi tiết ra một chất dinh dưỡng như sữa để nuôi ong chúa. Đó cũng chính là sữa ong chúa như nhiều người vẫn thường gọi. Trong ba đôi chân của ong, đặc biệt đôi chân thứ 3 của ong thợ có cấu tạo giống như chiếc giỏ để đựng hạt phấn từ nguồn hoa mang về tổ.

Loài ong có thể sống đơn độc hoặc tập hợp thành nhiều kiểu cộng động khác nhau. Đặc trưng nhất của ong là sống thành các tập hợp có tổ chức xã hội tốt. Tiêu biểu như ong mật, ong nghệ và ong không ngòi thuộc phân họ ong mật. Tính xã hội của từng nhóm ong là khác nhau song đều rất trật tự và có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng.

Loài ong có thể sống đơn độc hoặc tập hợp thành nhiều kiểu cộng động khác nhau. Đặc trưng nhất của ong là sống thành các tập hợp có tổ chức xã hội tốt. Tiêu biểu như ong mật, ong nghệ và ong không ngòi thuộc phân họ ong mật. Tính xã hội của từng nhóm ong là khác nhau song đều rất trật tự và có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng.

Ở đó, ong đực to hơn ong thợ. Nhiệm vụ duy nhất của chúng là giao phối với ong chúa mỗi khi ong chúa bay ra ngoài để “vui vẻ”. Ong đực thường xuất hiện vào mùa hè và chỉ sống 1 – 2 tháng. Khi mùa xuân tới chúng bị đuổi ra khỏi tổ và chết. Trong khi đó, ong thợ đông nhất, chiếm tới 99% số lượng thành viên trong đàn. Nhiệm vụ của chúng là lấy mật, nuôi ấu trùng và bảo vệ tổ khỏi những mối đe dọa từ bên ngoài.

Ở đó, ong đực to hơn ong thợ. Nhiệm vụ duy nhất của chúng là giao phối với ong chúa mỗi khi ong chúa bay ra ngoài để “vui vẻ”. Ong đực thường xuất hiện vào mùa hè và chỉ sống 1 – 2 tháng. Khi mùa xuân tới chúng bị đuổi ra khỏi tổ và chết. Trong khi đó, ong thợ đông nhất, chiếm tới 99% số lượng thành viên trong đàn. Nhiệm vụ của chúng là lấy mật, nuôi ấu trùng và bảo vệ tổ khỏi những mối đe dọa từ bên ngoài.

Ong thợ cũng chính là lực lượng lao động chính trong xã hội ong. Chúng làm việc cật lực không hề nghỉ ngơi. Vòng đời của chúng thường chỉ là từ 2 – 6 tháng. Mỗi khi một con ong thợ sắp chết, nó sẽ bay ra thật xa khỏi tổ rồi mới chết. Nếu có một ong thợ nào đó qua đời trong hoặc gần tổ của đàn, nó sẽ được những con ong khác đưa ra xa để “chôn cất”.

Ong thợ cũng chính là lực lượng lao động chính trong xã hội ong. Chúng làm việc cật lực không hề nghỉ ngơi. Vòng đời của chúng thường chỉ là từ 2 – 6 tháng. Mỗi khi một con ong thợ sắp chết, nó sẽ bay ra thật xa khỏi tổ rồi mới chết. Nếu có một ong thợ nào đó qua đời trong hoặc gần tổ của đàn, nó sẽ được những con ong khác đưa ra xa để “chôn cất”.

Các con ong sẽ dành cả ngày để dọn vệ sinh tổ sau khi có ong chết. Có một chi tiết khá thú vị đó là loài ong không đi vệ sinh trong tổ. Thay vào đó, việc “giải quyết nỗi buồn” của chúng thường diễn ra ở phía bên ngoài tổ để đảm bảo vệ sinh cho tổ.

Các con ong sẽ dành cả ngày để dọn vệ sinh tổ sau khi có ong chết. Có một chi tiết khá thú vị đó là loài ong không đi vệ sinh trong tổ. Thay vào đó, việc “giải quyết nỗi buồn” của chúng thường diễn ra ở phía bên ngoài tổ để đảm bảo vệ sinh cho tổ.

Bài ảnh: Trung Hiếu

 

 

 

 

Continue Reading

Bảo vệ Động vật hoang dã - Bm36A2

Kỳ 5: Phóng sự Chuyện người nuôi ong dưới những tán rừng

Published

on

KỲ 5: PHÓNG SỰ: CHUYỆN NGƯỜI NUÔI ONG DƯỚI NHỮNG TÁN RỪNG

Trang trại nuôi ong lấy mật tại Thôn Minh Tân, Xã Minh Trí, Sóc Sơn, Hà Nội, nép mình dưới chân núi, được che chở bởi những tán rừng xanh thẳm đầy những hoa thơm và trái ngọt, khuôn viên rộng 25 héc-ta này là nơi trú ngụ của hơn 300 tổ ong mật, với sự chăm sóc của người “kĩ sư ong” Ngô Văn Hoa.

Bác Ngô Văn Hoa năm nay đã gần 70 tuổi, những năm tháng đỏ lửa 1978 – 1979, đất nước phải trải qua cuộc chiến tranh biên giới đau thương, bác Hoa cũng như bao người thanh niên thời đó, hừng hực chí căm thù, mang thân trai lên đường vì sự nghiệp chung của tổ quốc. Kết thúc chiến tranh, Đảng và Nhà nước có chủ trương giãn dân, đưa người dân lên những vùng kinh tế mới để phát triển, bác Hoa một lần nữa lại không ngại khó khăn, lên vùng núi Sóc Sơn làm kinh tế mới.

Suốt một thời gian dài, bác loay hoay trong việc tìm kiếm mô hình kinh tế cho mình, hết trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc,… nhưng đều không mang lại những hiệu quả như mong muốn.

Cho đến 2 năm trở lại đây, nhận thấy nguồn lợi thiên nhiên vô giá của thảm thực vật quanh vùng núi Sóc Sơn, bác Ngô Văn Hoa bắt đầu triển khai nuôi những đàn ong đầu tiên, rồi cứ thế phát triển cho đến nay số đàn ong của bác đã lên tới hơn 300 đàn. Mỗi đàn ong một năm cho sản lượng từ 8 – 10 lít mật, mang đến nguồn thu nhập lớn cho gia đình bác Hoa.

Bác Bùi Văn Quế, một cựu chiến binh tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, là thông gia “đồng hao” cùng bác Hoa, và cũng là người đồng nghiệp cùng bác Hoa chăm sóc cho trại nuôi ong ở Minh Tân. Một ngày làm việc của người thợ ong bắt đầu từ 7 giờ sáng, hôm nay là tới phiên trực của bác Hoa. Bác đi tới từng đàn kiểm tra sự phát triển của ong chúa trong mỗi tổ, nếu có đàn ong nào thiếu nguồn mật hay nguồn phấn để duy trì thì chính tay bác lại phải điều chỉnh, cung cấp nguồn thức ăn để duy trì đàn ong. Từ tháng 2 đến tháng 7 trong năm là thời gian thu hoạch chính của những tổ ong, còn lại là thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng và nhân đàn cho ong.

Những chú ong đang trữ mật ong sau khi đi làm mật về.

Bác Bùi Văn Quế, một cựu chiến binh tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, là thông gia “đồng hao” cùng bác Hoa, và cũng là người đồng nghiệp cùng bác Hoa chăm sóc cho trại nuôi ong ở Minh Tân.

Một ngày làm việc của người thợ ong bắt đầu từ 7 giờ sáng, hôm nay là tới phiên trực của bác Hoa. Bác đi tới từng đàn kiểm tra sự phát triển của ong chúa trong mỗi tổ, nếu có đàn ong nào thiếu nguồn mật hay nguồn phấn để duy trì thì chính tay bác lại phải điều chỉnh, cung cấp nguồn thức ăn để duy trì đàn ong. Từ tháng 2 đến tháng 7 trong năm là thời gian thu hoạch chính của những tổ ong, còn lại là thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng và nhân đàn cho ong

Theo chân bác Hoa đến thăm từng tổ ong, kiểm tra con ong chúa, rồi đánh dấu cẩn thận trên mỗi thùng, mới thấy công việc của một người nuôi ong, mỗi ngày đều phải kiểm tra lần lượt 300 đàn ong không được bỏ xót bất kì đàn nào, đòi hỏi người ta phải có sự kiên nhẫn, niềm say mê, yêu ong, yêu mật mới có thể duy trì nhiệt huyết của mình cho mỗi tổ ong

“Ong hôm nay dữ lắm.”, bác Hoa nói rồi khoác lên mình chiếc áo bảo hộ chuyên dùng cho những người nuôi ong. “Làm ong không ai tránh khỏi việc bị ong đốt, người nào khéo léo thì ong đốt ít, người tay chân vụng về thì bị đốt nhiều. Đặc biệt là những lúc đàn ong dữ thì bắt buộc phải mang quần áo bảo hộ.” Từ hồi làm ong đến giờ, bác đếm không hết những vết ong đốt, nhưng khi đã quen với nghề, những vết đốt của ong cũng chỉ như vết chích của con kiến, bác Hoa còn đùa rằng, phải quý lắm những con ong mới “đốt yêu” bác như vậy.

“Nếu mà không vào nghề nuôi ong thì thôi, còn đã vào nghề nuôi ong thì rất say mê”. Vì hai chữ “say mê” này mà người cựu chiến binh già rời xa gia đình, dành toàn bộ thời gian của mình để chăm sóc cho đàn ong. Những lúc đàn ong ổn định, bác dành thời gian về thăm gia đình, nhưng rồi cũng nhanh nhanh chóng chóng mong về với “những người bạn nhỏ” của mình. “ Khi đã đến cái tuổi này các bác chỉ thích những miền quê, trong lành, thành bình, mát mẻ. Mỗi lần về quê có khi chỉ được 2,3 ngày là bác lại lên ngay vì ở đó chật chội, nóng bức.”

Ở nước ngoài, người ta sử dụng cụm từ “Người giữ ong” ( Bee Keeper ) để chỉ những người như bác Hoa và bác Quế. Giữ ở đây, không chỉ có nghĩa là chăm sóc, giữ cho con ong luôn khỏe mạnh, mà còn có nghĩa là giữ cho ong luôn sinh sống và phát triển gần những thảm thực vật. Qua quá trình hút mật, ong giúp các loại thực vật thụ phấn, bởi vậy những cánh đồng hoa, những vườn rau xanh mướt hay ngay cả khu rừng già xanh thẳm cũng rất cần đến vai trò của loài ong giúp cho quá trình sinh sôi của thực vật.

Chính vì thế mà những người giữ ong ở rừng như hai bác, lại càng đáng quý hơn bao giờ hết bởi đây là một hình thức bảo tồn thiên nhiên vô cùng hiệu quả. Những đàn ong giúp cho cây rừng ra hoa thụ phấn, ngược lại chúng hút mật mang về mật ong bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe, mang lại hàm lượng dinh dưỡng cao. Thiên nhiên và con người chia sẻ lợi ích cho nhau, chung sống hòa bình không có xung đột. Những người giữ ong cũng vì vậy mà càng có ý thức bảo vệ nguồn lợi từ thiên nhiên để có thể phát triển một cách bền vững.

“Ở Minh Tân này không ai phun thuốc, không ai sử dụng hóa chất cả.”, bác Quế chỉ về phía cánh rừng và nói. Người dân ở vùng này còn chú ý đến bảo vệ rừng đầu nguồn, bởi nuôi ong gần như phụ thuộc hoàn toàn vào rừng, vào thiên nhiên, thời tiết, nếu không có rừng thì sẽ mất đi nguồn thức ăn tự nhiên quý giá cho ong, thế nên chẳng ai bảo ai người dân Minh Tân vẫn luôn luôn ý thức phải giữ rừng.

Nhưng không phải ai cũng có suy nghĩ như bác Quế và không phải ở nơi nào trên thế giới này người ta cũng biết bảo vệ môi trường như ở Minh Tân. Việc lạm dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ tràn lan trên thế giới, đang khiến cho những thảm thực vật tự nhiên đều bị nhiễm độc. Loài ong khi thụ phấn có chứa thuốc trừ sâu hay thuốc diệt cỏ, sẽ nhiễm độc và dần suy giảm về số lượng cá thể cũng như chất lượng mật.

Sự biến đổi của khí hậu và sự nóng lên của trái đất cũng khiến cho những tập tính của đàn ong bị thay đổi. “Cánh của con ong giống như chiếc điều hòa nhiệt độ cho tổ, nếu nhiệt độ tăng cao thì đàn ong sẽ đập cánh nhiều để làm dịu mát lại. Nhưng như vậy ong sẽ vất vả và nhanh kiệt sức hơn”, bác Quế giải thích. Vì thế để đảm bảo số lượng đàn ong, các bác phải nhân đàn thường xuyên, liên tục để bảo tồn số lượng và chất lượng của đàn ong.

“Nếu loài người vẫn còn thì loài ong không bao giờ tuyệt chủng được”, bác Hoa khẳng định. Lời khẳng định của bác xuất phát từ tình cảm cho loài ong và niềm kiêu hãnh của một người thợ nuôi ong có tâm với nghề. Bảo vệ loài ong, cũng là bảo vệ từng bông hoa, ngọn cỏ, bảo vệ cánh rừng xanh và rộng hơn là bảo vệ môi trường thiên nhiên xung quanh chúng ta.

Năm nay đã đến tuổi “xưa nay hiếm”, có lẽ điều bác Hoa mong muốn lúc này, ngoài được an hưởng tuổi già, còn là mong muốn tìm được những thế hệ kế cận để truyền sự say mê và những kiến thức về ong của mình cho lớp trẻ. Những người nuôi ong ở rừng như bác Hoa, không chỉ đang giữ loài ong cho những tán rừng, mà còn là giữ tình yêu thiên nhiên, giữ từng tán rừng xanh, giữ ngọn núi quê hương cho những thế hệ mai sau tiếp nối.

Những người thợ yêu ong, yêu mật tại Trại ong thôn Minh Tân, xã Minh Trí, Sóc Sơn, Hà Nội. (Video: Huyền Chi – Lê Hoàng – Hoàng Long – Ngọc Linh)

Thực hiện: Lê Hoàng – Mỹ Diệp

Đồ họa: Huyền Chi – Ngọc Linh

Ảnh: Ngọc Linh – Thu Phượng – Trung Hiếu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Continue Reading

Bảo vệ Động vật hoang dã - Bm36A2

Kỳ 4: Giải pháp nào thay thế cho loài ong?

Published

on

Những con ong có vòng đời ngắn ngủi nhưng gắn trên mình một nhiệm vụ rất lớn, đó là thụ phấn cho cây và lấy mật. Trên thế giới có rất nhiều loài côn trùng khác như bọ cánh cứng, ruồi, bướm và ong bắp cày phấn hoa cũng có khả năng này, nhưng chỉ có những chú ong chăm chỉ mới có thể làm công việc này hiệu quả nhất.

Đồ họa về những bí ẩn của loài ong (Nguyễn Hồng)

Đồ họa về những bí ẩn của loài ong (Nguyễn Hồng)

Trong hơn 100 loài cây cung cấp lương thực, có tới 70 loài được thụ phấn bởi những con ong thuần hóa hoặc hoang dã. Ông Simon Potts, giảng viên khoa Đa dạng sinh học tại Đại học Reading (Anh) cho biết: “Ong mật là loài thụ phấn quan trọng nhất trên hành tinh. Trong 50 năm qua, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào thụ phấn đã tăng 300%, nhưng đồng thời số lượng ong cũng giảm mạnh”.

Đa phần người nông dân đều phải mua hoặc thuê các đàn ong để phục vụ công việc đồng áng, điều này góp phần làm cho giá lương thực trở nên đắt đỏ hơn.  Đứng trước những khó khăn như vậy, nhiều người đã chủ động nuôi ong để duy trì và phát triển số lượng ong tự nhiên.

Những mô hình nuôi ong lấy mật đã có từ lâu. Mặc dù việc nuôi ong lấy mật xuất phát từ mục đích làm kinh tế, tuy nhiên chính cách này lại giúp số lượng ong duy trì và phát triển trong tự nhiên. Nuôi ong lấy mật không khó nhưng đòi hỏi người nuôi phải khéo léo, tỉ mỉ. Người nuôi cần phải am hiểu về đặc tính của ong như: Xây tổ; chia đàn; các loài hoa, mùa hoa nở; mùa ong đi lấy mật; cách luân chuyển đàn ong tìm kiếm những nơi có nguồn mật hoa dồi dào. Bên cạnh đó, việc phòng, chống bệnh cho ong cũng rất quan trọng. Do đàn ong sống trong một quần thể lớn, bay rất nhiều nơi để kiếm phấn hoa nên khả năng nhiễm và lây lan bệnh rất cao.

Ông Ngô Văn Hoa – chủ trại nuôi ong ở Sóc Sơn, Hà Nội là người đã có kinh nghiệm nuôi ong nhiều năm. Ông cho biết, việc nuôi ong không chỉ giúp duy trì số lượng ong tự nhiên mà còn mang lại lợi ích kinh tế lớn từ việc lấy mật ong. “Nói chung ong nuôi và ong tự nhiên không có gì khác nhau, đều có chức năng chính là thụ phấn, lấy mật. Có điều phải làm sao để ong nuôi phát triển một cách tốt nhất thì cũng phải có phương pháp”. Ông Hoa chia sẻ thêm.

Ông Ngô Văn Hoa đang kiểm tra đàn ong của mình. (Ảnh: Thu Phượng)

Ông Ngô Văn Hoa đang kiểm tra đàn ong của mình. (Ảnh: Thu Phượng)

Những phương pháp ấy là những kĩ thuật riêng mà bất cứ người nuôi ong nào như ông Hoa ngoài được học thì còn phải tự nghiên cứu thêm, từ việc đặt thùng ong đúng chỗ đến việc theo dõi, chăm sóc ong hàng ngày,… đều được ông Hoa thực hiện nghiêm ngặt. Có như vậy, đàn ong của ông mới không rơi vào tình trạng mất kiểm soát.

Trong bối cảnh ong tự nhiên ngày càng suy giảm, các nhà khoa học Nga tại Đại học Bách khoa Tomsk (TPU) đã đưa ra một giải pháp thay thế: ong máy. Dự án này dự định sẽ khởi động vào năm 2019 để tạo ra những chú ong máy có kích thước lớn hơn ít nhất bảy lần so với ong trong tự nhiên, có nghĩa là chúng sẽ to bằng lòng bàn tay con người.

Theo Alexey Yakovlev, hiệu trường Trường Kỹ thuật thuộc TPU, ong nhân tạo sẽ đặc biệt thích hợp cho dâu tây và các loại cây khác được trồng quanh năm trong nhà kính.

Để chế tạo những con ong máy, các nhà khoa học Nga sẽ phải phát triển các thuật toán, phần mềm, các hệ thống quang học và những phương pháp nhận dạng hình ảnh giúp việc định vị được chính xác. Sẽ phải mất khoảng 1,4 triệu USD cho 100 con ong máy dự tính sẽ được xuất xưởng trong lần đầu tiên.

Các nhà vườn lớn chủ yếu dùng ong nghệ cho việc thụ phấn hoa quanh năm. Mỗi đàn ong có giá khoảng 500 USD. Vào mùa đông, họ sử dụng ánh sáng hồng ngoại để tạo ra nhiệt độ ấm, tuy nhiên, khi mùa xuân tới (thời tiết ấm lên), các đàn ong hoàn toàn có khả năng bỏ vườn bay đi mất. Điều này đồng nghĩa với hao hụt kinh tế. Trái lại, ong máy có khả năng làm việc không nghỉ mà chẳng bao giờ bay đi nơi khác.

Những con ong máy sẽ là giải pháp tương lai hữu hiệu thay thế loài ong. (Ảnh: Blog Science and Industry Museum)

Những con ong máy sẽ là giải pháp tương lai hữu hiệu thay thế loài ong. (Ảnh: Blog Science and Industry Museum)

Việc sử dụng ong máy tuy không thể hoàn toàn thay thế được những chức năng của ong trong tự nhiên, nhưng các nhà vườn trồng những loại thực vật khác nhau có thể sử dụng chung một bầy ong máy với chi phí thấp hơn thuê, hoặc mua một đàn ong tự nhiên, và ngoài các sinh vật có thể thụ phấn thay thế ong, như: dơi, ruồi, muỗi… ong máy chắc chắn là giải pháp mà những chủ nhà vườn đang tìm kiếm.

Những con ong có thể học cách giao tiếp với robot và robot cũng có thể học cách tương tác với ong không? Dù bạn có tin hay không, bằng cách trả lời những câu hỏi này mà các nhà khoa học châu Âu nghĩ rằng họ có thể phát triển các công nghệ mới nhằm mục đích bảo vệ môi trường và loài ong tốt hơn.

Hầu như mỗi ngày, các nhà nghiên cứu ở Graz, Áo xây dựng tổ ong không giống ai. Các tấm sáp được lắp đặt phía trên một đội robot nhỏ được trang bị cảm biến. Các thuật toán lấy cảm hứng từ sinh học phức tạp giúp những robot này gửi các kích thích vật lý khác nhau đến côn trùng. Sau đó, các nhà nghiên cứu sẽ nghiên cứu phản ứng của những con ong.

“Ngay khi chúng ta có kết nối giữa côn trùng và máy tính, chúng ta có thể quan sát luồng thông tin chặt chẽ hơn nhiều và tìm ra cách những con ong lưu thông tin, cách chúng truyền đạt thông tin, cách chúng lọc thông tin. sự hiểu biết về các xã hội côn trùng này “, ông Thomas Schmickl – điều phối viên và nhà sinh vật học của Dự án ASSISIBF tại Đại học Graz cho biết. Các nhà khoa học tại dự án nghiên cứu châu Âu này đã lập trình cho các robot nhỏ cố gắng làm cho những con ong phản ứng với các kích thích như rung động, thay đổi luồng không khí và đặc biệt là sự thay đổi nhiệt độ.

Dự án ASSISIBF tại Đại học Graz với mục đích giao tiếp và cảnh báo những con ong về các mối nguy hại trong môi trường. (Ảnh: Ars Electronica)

Dự án ASSISIBF tại Đại học Graz với mục đích giao tiếp và cảnh báo những con ong về các mối nguy hại trong môi trường. (Ảnh: Ars Electronica)

“Chúng tôi có các bộ phận điện tử bên trong robot. Chúng tôi có thể làm ấm chúng dưới những nhiệt độ nhất định. Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để làm ấm robot. Chúng tôi làm ấm chúng để những con ong bị thu hút bởi những điểm ấm áp này”, Ziad Salem – một kỹ sư hệ thống tại Đại học Graz cho biết. Bước tiếp theo là lập trình robot để tự động bắt chước hành vi xã hội đã học được trong quá trình trao đổi với ong. Các nhà khoa học về cơ bản muốn robot phát triển trí thông minh tập thể tự trị.

Các nhà khoa học cũng hy vọng robot nhỏ của họ một ngày nào đó có thể giúp bảo vệ những con ong, hiện đang chịu áp lực môi trường nặng nề. Họ nhìn thấy một tương lai nơi các robot nhỏ, được trang bị cảm biến có thể sống bên trong tổ ong và trao đổi dữ liệu môi trường với những con ong, như thông tin về sự hiện diện của thuốc trừ sâu hoặc chất ô nhiễm trong môi trường ngay lập tức. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết, với phương pháp này, sức khỏe, sự bảo vệ và năng suất của các đàn ong có thể cải thiện đáng kể. Chẳng hạn thời tiết thay đổi thất thường như mưa nhiều kéo dài hay trời quá lạnh, đồng nghĩa với việc ong sẽ không đủ ăn. Nhưng với sự có mặt của những con robot này, chúng ta có thể biết trước và điều tiết cho ong mật đẻ ít trứng và sinh con ít hơn, để những con ong sinh ra có đủ lượng thức ăn và được chăm sóc một cách tốt nhất.

Thời đại trí thông minh nhân tạo lên ngôi, loài ong trở nên thật may mắn khi được giải cứu bởi AI. Trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp thay thế các đàn ong tự nhiên đang ngày một ít dần, các chuyên gia cũng đã thử nghiệm nhiều giải pháp thụ phấn nhân tạo.

Năm 2017, nhóm nghiên cứu của Eijiro Miyako thuộc Viện Khoa học Công nghệ tiên tiến của Nhật Bản đã phát triển mô hình máy bay không người lái có gắn lông ngựa và một loại gel đặc biệt để giúp thụ phấn hoa.

Các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard cũng đã phát triển mô hình ong nhân tạo có trọng lượng chỉ bằng 1/10gram được gắn cảm biến thông minh hoạt động giống như mắt của loài ong.

Phòng thí nghiệm Draper Charles Stark ở Cambridge, Massachusetts cũng đang hối hả với thiết bị thụ phấn có điều khiển mà họ gọi đó là Rồng thụ phấn hoa. Và gần đây nhất, vào tháng 3 vừa rồi, Walmart đã gửi đơn xin cấp bằng sáng chế cho các máy bay không người lái thụ phấn của mình.

Những giải pháp thay thế cho ong bằng robot thực sự sẽ rất hiệu quả nếu có sự đầu tư nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của giải pháp này, chính là việc ong robot dù có làm tốt công việc thụ phấn đến đâu thì cũng không thể cho mật. Điều này chứng tỏ rằng, dù công nghệ có phát triển và giúp ích rất lớn trong việc phát triển cây trồng thì cũng không thể thay thế hoàn toàn cho những con ong tự mình thụ phấn, lấy mật. Bởi vậy, hơn ai hết, con người là nhân tố quan trọng trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển loài ong, có như vậy, con ong mới thực hiện được những nhiệm vụ bản năng của nó, và hệ sinh thái tự nhiên mới được cân bằng.

Video Giải pháp bảo vệ ong khỏi tuyệt chủng (Nguyễn Hồng)

Bài viết: Thu Phượng, Nguyễn Hồng, Hậu, Hương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Continue Reading

Nổi Bật